SO SÁNH VIỆC SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN TRONG NUÔI TÔM, PHẦN 2: NƯỚC

waterẢnh 1: Trong phần thứ hai này, Giáo sư Boyd thảo luận về việc sử dụng nước trong nuôi tôm ở năm quốc gia xuất khẩu tôm lớn – Ecuador, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam – và đề xuất các bước để giảm thiểu khả năng ô nhiễm của các trang trại nuôi tôm, bao gồm cả các cách thức cho ăn thận trọng để tránh thức ăn thừa càng nhiều càng tốt. Ảnh của Darryl Jory.

Người ta nói nhiều đến tình trạng thiếu nước hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, ngày nay thì lượng nước vẫn rất dồi dào. Tình trạng thiếu nước thỉnh thoảng xảy ra do hạn hán, dân số mở rộng đến các vùng khô hạn, quản lý kém nguồn cung cấp nước, xung đột trong và giữa các quốc gia, mở rộng nông nghiệp và, cũng như với tất cả các nguồn tài nguyên, lòng tham của con người.

Dữ liệu về việc sử dụng nước trong nuôi tôm được thu thập từ các cuộc điều tra các trang trại nuôi tôm thẻ chân trắng ở 5 quốc gia xuất khẩu tôm lớn. Số lượng trang trại cho mỗi quốc gia như sau: 101 trang trại ở Ecuador; 89 ở Ấn Độ; 131 ở Indonesia; 34 ở Thái Lan; và 30 tại Việt Nam.

Sử dụng nước trong nuôi tôm

Nước ngọt hàng năm, bền vững và sẵn có để sử dụng cho con người bao gồm dòng chảy thường xuyên và lượng nước tích trữ trong các đập trên các sông lớn. Nước ngầm được sử dụng nhiều, nhưng việc sử dụng nước ngầm ở tầng nông cạnh tranh với dòng chảy của sông suối. Các nguồn nước ngầm sâu hơn có thể cần nhiều năm để hồi phục lại và nước ngầm thường không được đưa vào loại nước bền vững cho con người.

Nuôi tôm sử dụng rất ít nước ngọt – chỉ sử dụng cho mục đích ăn uống, sinh hoạt và một số mục đích khác trong trang trại. Nước ngọt cần thiết cho việc sản xuất thức ăn, nhiên liệu và các đầu vào quản lý khác.

Lượng nước mặn được sử dụng bởi các trang trại trong cuộc khảo sát này phụ thuộc vào phương pháp quản lý nước. Các trang trại không thay nước trong suốt vụ nuôi sử dụng ít nước nhất cho mỗi tấn tôm. Một số trang trại không sử dụng thay nước đã sử dụng lại một phần lượng nước đã tiêu khi thu hoạch, làm giảm lượng nước sử dụng.

Tỷ lệ trang trại sử dụng thay nước hàng ngày dao động từ 94% ở Indonesia đến 21% ở Ấn Độ (Bảng 1) với tỷ lệ trung bình cho tất cả các quốc gia là 67%. Tại các trang trại áp dụng phương pháp thay nước, lượng nước mặn được sử dụng tăng lên theo tỷ lệ thay nước hàng ngày, dao động từ 1 đến 40% thể tích ao sản xuất mỗi ngày. Tỷ lệ trao đổi nước trung bình hàng ngày thay đổi từ 5% ở Thái Lan đến 21% ở Ấn Độ (Bảng 1) với mức trung bình cho 5 quốc gia là 8% thể tích ao mỗi ngày.

 Sử dụng nước (m3/tấn tôm)  
    
Quốc giaNước mặnNước ngọtTổng lượng nước
Ecuador74,1302,67076,800
Ấn Độ36,6412,55939,200
Indonesia52,5002,50055,000
Thái Lan11,4092,59114,000
Việt Nam43,0892,41145,500

Bảng 1. Sử dụng nước cho tôm nuôi ở 5 nước xuất khẩu tôm lớn.

Sử dụng nước mặn dao động từ 11.409 m3/tấn tôm ở Thái Lan đến 74.130 m3/tấn tôm ở Ecuador (Bảng 1). Trung bình cho 5 quốc gia là 50.146 m3/tấn tôm. Thái Lan sử dụng nhiều sục khí hơn trên mỗi ha và Ecuador sử dụng ít sục khí hơn các nước khác. Tuy nhiên, không có sự tăng hay giảm rõ ràng trong tỷ lệ thay nước khi tốc độ sục khí tăng lên.

Nước ngọt chiếm một phần nhỏ trong tổng lượng nước sử dụng (Bảng 1), và có rất ít sự thay đổi trong việc sử dụng nước giữa các quốc gia (2.411-2.670 m3/tấn tôm) với mức trung bình là 2,557 m3/tấn tôm. Chỉ có 4,3% tổng lượng nước sử dụng trên 52.700 m3/tấn tôm là nước ngọt.

Mục đích sử dụng chính của nước ngọt là để làm thức ăn chăn nuôi. Sản xuất cây trồng cần lượng nước đáng kể, thức ăn từ thực vật và các thành phần thức ăn cho tôm khác chứa trung bình là 1.612 m3/tấn thức ăn. Gần như tất cả nước ngọt có trong tôm nuôi là do thức ăn.

Trong khi tổng lượng nước sử dụng cho nuôi tôm là khá lớn, chưa đến 5% lượng nước sử dụng là nước ngọt. Việc nuôi tôm hầu như không quan trọng việc sử dụng nước ngọt. Tuy nhiên, bằng cách cải thiện FCR, có thể giảm việc sử dụng nước ngọt cho tôm nuôi.

Quản lý nguồn nước và ô nhiễm nguồn nước

Mối quan tâm lớn hơn liên quan đến việc sử dụng nước là lượng lớn nước thải ra từ các trang trại. Nước này có nồng độ chất rắn lơ lửng, nitơ, phốt pho và nhu cầu oxy sinh học (BOD) tăng cao. Khi được xả vào nước tự nhiên, nó có thể dẫn đến hiện tượng đục và lắng cặn xung quanh các đầu ra. Nó cũng có thể kích thích sự phát triển của thực vật phù du và tăng nhu cầu oxy, dẫn đến hiện tượng phú dưỡng.

Ao lắng rất hiệu quả trong việc loại bỏ một phần chất ô nhiễm khỏi nước. Sự phân hủy của vi sinh vật làm giảm nhu cầu oxy, hợp chất nitơ chủ yếu là amoniac; amoniac được chuyển đổi thành nitrat ít rắc rối hơn bằng cách nitrat hóa; nitrat được chuyển đổi bằng cách khử nitơ thành nitơ thể khí, nó khuếch tán vào không khí; phốt pho bị cô lập bởi trầm tích. Thay nước rút ngắn thời gian nước tồn lưu trong ao, dẫn đến việc loại bỏ các chất ô nhiễm trong ao ít hơn và nhiều chất ô nhiễm được thải vào vùng nước tiếp nhận.

Các chất ô nhiễm trong nước thải của trại nuôi tôm chủ yếu bắt nguồn từ thức ăn thừa, phân và quá trình chuyển hóa của tôm. Các bước để giảm thiểu khả năng gây ô nhiễm bao gồm cho ăn thận trọng để tránh càng nhiều thức ăn thừa càng tốt; sục khí đầy đủ để ngăn ngừa nồng độ oxy hòa tan thấp ảnh hưởng xấu đến sức ăn của tôm; và để thuận lợi cho hoạt động của vi sinh vật hiếu khí, bao gồm cả quá trình nitrat hóa. Nên giảm thay nước để kéo dài thời gian nước tồn lưu trong ao và tăng khả năng đồng hóa chất thải trong ao. Thay nước ít hơn cũng tiết kiệm năng lượng tiêu tốn cho quá trình bơm nước.

Tiến sĩ Claude E. Boyd, Tiến sĩ Robert P. Davis, Tiến sĩ Aaron McNevin.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.